Thừa kế với trường hợp chồng chết chưa được cấp giấy chứng nhận lần đâu?
Vào ngày 15/04/2026 cả 6 người con của ông A và bà B lập văn bản phân chia di sản đối với tài sản của bà B để lại theo giấy chứng nhận đã cấp và chỉ phân chia mang tên bà B nhưng cán bộ hướng dẫn yêu cầu có tên ông B.
Tuy nhiên hiện nay đang phân vân có đưa tên ông A và bà B vào là tài sản chung để làm văn bản phân chia di sản được không. Nếu đưa vào thì cơ quan cấp bìa đang cấp bìa cho người đã chết là cấp sai quy định.
Đề nghị được trợ giúp















Nguyễn Văn Thắng
Trường hợp ông A và bà B có 6 người con chung; ông A mất năm 1990 khi thửa đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà B được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà B năm 1997, bà B lại mất năm 2007 không để lại di chúc.
Về nguyên tắc xử lý tài sản thừa kế trong trường hợp này như sau:
Tài sản chung của vợ chồng
Theo Điều 66 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, khi một bên vợ hoặc chồng chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung vợ chồng.
Khi có yêu cầu chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, phần của người mất được chia theo quy định pháp luật về thừa kế. Do vậy, phần tài sản chung của ông A và bà B (thửa đất) phải được chia đôi, phần của bà B được chia theo pháp luật do bà B không để lại di chúc.
Về lập văn bản phân chia di sản và tên trên giấy chứng nhận:
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện tại đứng tên bà B (được cấp lần đầu năm 1997).
Việc phân chia di sản phải căn cứ trên tài sản chung của ông A (đã mất) và bà B (đã mất). Về mặt pháp lý, phần tài sản chung cần được xác định rõ là tài sản chung của hai vợ chồng.
Trong văn bản phân chia di sản, nếu dùng tài sản chung của vợ chồng thì nên ghi rõ là tài sản chung của ông A và bà B, còn văn bản phân chia di sản do người thừa kế của bà B yêu cầu thì sẽ phân chia phần thuộc về bà B theo pháp luật.
Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận không cấp cho người đã chết (như ông A hoặc bà B) mà phải cấp cho người đang sống là chủ sở hữu hoặc người thừa kế hợp pháp.
Việc cấp giấy chứng nhận cho người đã chết là sai quy định, giấy chứng nhận phải được cấp cho người thừa kế theo quy định pháp luật.
Về việc xác nhận thửa đất trong văn bản phân chia di sản:
Văn bản phân chia di sản cần nêu rõ phần tài sản chung của ông A, bà B để làm cơ sở chia phần di sản của người chết.
Văn bản cần thể hiện rõ thửa đất là tài sản chung của vợ chồng hoặc tài sản của bà B tại thời điểm bà B mất.
Tóm lại:
Có thể đưa tên ông A và bà B là chủ sở hữu tài sản chung trong văn bản phân chia di sản để xác định rõ tài sản là tài sản chung, nhưng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho người đã chết là sai.
Việc phân chia di sản cần tiến hành theo pháp luật thừa kế; phần tài sản của bà B được phân chia cho 6 người con theo quy định pháp luật vì bà không để lại di chúc.
Cơ quan có thẩm quyền sẽ cấp giấy chứng nhận cho người thừa kế hợp pháp (6 người con hoặc người được ủy quyền) chứ không phải cho ông A hoặc bà B đã mất.
Bạn nên liên hệ công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền để thực hiện việc khai nhận di sản thừa kế và đăng ký biến động quyền sử dụng đất theo quy định để đảm bảo thủ tục pháp lý.
Thông tin trên chỉ mang tính tham khảo, quý khách nên gặp luật sư để được tư vấn cụ thể và hỗ trợ làm thủ tục chính xác.
Căn cứ pháp lý:
Luật Hôn nhân và gia đình 2014 Điều 66 về giải quyết tài sản của vợ chồng trong trường hợp một bên chết.
Bộ luật Dân sự 2015 Điều 650 về thừa kế theo pháp luật.
Bộ luật Dân sự 2015 Điều 651 về người thừa kế theo pháp luật.
Bộ luật Dân sự 2015 Điều 611 về thời điểm, địa điểm mở thừa kế.